Hiển thị các bài đăng có nhãn nuôi con. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn nuôi con. Hiển thị tất cả bài đăng

Những biểu hiện khi trẻ thiếu vitamin

Vitamin giúp con hấp thu tốt và tăng trưởng toàn diện về thể chất và trí tuệ. Khi cơ thể con thiếu vitamin sẽ có những biểu hiện rõ rệt. Sau đây, các mẹ hãy để ý xem con đang thiếu vitamin nào dưới đây nhé!

1. Vitamin A  

Khô mắt là dấu hiệu đặc trưng nhất khi bé bị thiếu vitamin A. Các biểu hiện dễ thấy như sợ ánh sáng, ít nước mắt đồng thời da con thô ráp, bong vảy, sần sùi, bé chậm lớn, lúc nào cũng có cảm giác mệt mỏi. 


Vì vậy mẹ phải lập tức bổ sung vitamin A cho bé bằng cách sau: cho con bú sữa mẹ, ăn bổ sung và uống vitamin A định kì 6 tháng/lần. Bổ sung vào chế độ ăn của bé nhiều loại thức ăn chứa vitamin A như dầu gấc, đu đủ, rau ngót, trứng, gan,…  

2. Vitamin B1  

Cha mẹ thấy bé không tăng cân, nước tiểu ít, hay quấy khóc và rối loạn tiêu hóa thì có thể bé đang thiếu vitamin B1. B1 là loại vitamin rất cần để tổng hợp ra acetincholin, nếu thiếu B1 sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến chức năng thần kinh của bé.  

Bổ sung Vitamin B1 bằng cách: cho con bú sữa mẹ, uống nhiều sữa bò, trứng, ngũ cốc nguyên cám. Ngoài ra cha mẹ có thể cho bé bổ sung thêm vitamin B1 bằng cách cho con uống hoặc tiêm vitamin B1 liều cao, sau đó giảm dần theo chỉ định của bác sĩ.  

Lưu ý khi chế biến thực phẩm cho con các mẹ không nên nấu quá kĩ vì viatmin B1 sẽ bị phá hủy khi nhiệt độ cao  

3. Vitamin B6  

Thiếu vitamin B6, bé hay xuất hiện các triệu chứng quấy khóc đêm, người luôn nôn nóng, sốt ruột, ngủ chập chờn, giấc ngủ không sâu, buồn nôn, thậm chí bị chứng phong rút, bị động kinh.  

Vitamin B6 có trong nhiều loại rau quả, ngũ cốc vì vậy hãy bổ sung vitamin B6 cho con bằng cách: cho con ăn nhiều hoa quả tươi như chuối, dưa hấu, ăn ngũ cốc nguyên chất.  

4. Vitamin B12  

Biểu hiện ở bé thiếu vitamin B12 là sắc mặt trắng bệch, lông tóc hơi vàng, thần kinh không phấn chấn, không muốn ăn, nôn mửa, tiêu chảy… Khi đó cần cho bé uống vitamin B12 ngay theo hướng dẫn của bác sĩ.  


5. Vitamin C  

Thiếu vitamin C làm cho bé luôn có cảm giác đau mỏi toàn thân, trẻ dễ bị sún răng, răng vàng, sưng lợi. Lúc này, mẹ cần cho con uống thêm vitamin C và các loại nước ép, sinh tố từ cam, bơ, cà chua, bưởi,… để bổ sung lượng vitamin còn thiếu.  

6. Vitamin D  

Trẻ sơ sinh hay đối với các bé lớn hơn có các biểu hiện sau: đổ mồ hôi trộm, đầu mềm, tóc rụng hình vành khăn, răng mọc chậm, lâu biết bò và đi. Khi ngủ trẻ hay bị giật mình, luôn có cảm giác khó chịu, cáu gắt bực tức thì chắc chắn con bạn đang thiếu vitamin D. Thiếu viatmin D sẽ không diễn ra quá trình biến đổi canxi và phốt pho dẫn đến bệnh còi xương ở trẻ.  

Để bổ sung vitamin D, hãy cho bé ăn các thực phẩm như: sữa, bơ, gan, dầu gan cá, lòng đỏ trứng. Đặc biệt nên bổ sung vitamin D cho bé bằng cách tắm nắng, khi cho bé tắm nắng da của bé có thể tự tổng hợp được 90% nhu cầu vitamin D cho một ngày.  

7. Vitamin PP  

Thiếu vitamin PP trẻ thường bị tiêu chảy, phân giống như nhầy mũi hoặc có máu. Ngoài ra, bé hay bị viêm miệng và lưỡi, khó ngủ, bị ảo giác, ù tai, giảm trí nhớ. Nếu không được bổ sung vitamin PP kịp thời, bé có thể tử vong do viêm phổi, viêm thận.  


Cha mẹ có thể bổ sung vitamin PP cho con qua các thực phẩm như: thịt, cá, sữa, trứng, rau xanh, ngũ cốc. Ngoài ra, cha mẹ có thể cho bé uống bổ sung vitamin PP theo chỉ định của bác sĩ.  

8. Vitamin K  

Nếu bé hay bị chảy máu đường tiêu hóa, chảy máu ở da, niêm mạc…cha mẹ cần phải nghĩ ngay tới việc thiếu vitamin K. Ngoài ra, khi thấy trẻ bỏ bú, quấy khóc, co giật… nhất là trẻ ở lứa tuổi từ sơ sinh đến 2 tháng tuổi thì mẹ cần đặc biệt lưu ý nguy cơ xuất huyết não  

Thiếu vitamin K thường xảy ra ở bé sơ sinh (vào khoảng 3 – 5 ngày sau sinh) vì lúc này vi khuẩn đường ruột chưa tổng hợp đủ vitamin K. Nếu thiếu hay không hấp thu được vitamin K ở ruột sẽ làm giảm prothrombin máu và giảm sự tổng hợp proconvertin ở gan.  

Thông thường, thai phụ sẽ được uống hoặc tiêm vitamin K trước khi sinh và cho trẻ uống hay tiêm vitamin K ngay sau khi sinh đây là cách tốt nhất phòng thiếu vitamin K ở trẻ. Mẹ tuyệt đối không được tự ý cho con uống vitamin K vì việc này có thể gây ngộ độc cho con.

6 kỹ năng không nên tập cho trẻ quá sớm kẻo hại con

Dạy cho trẻ những kỹ năng quá sớm so với lứa tuổi thích hợp có thể gây bất lợi cho sự trưởng thành và phát triển khỏe mạnh của trẻ.

Bố mẹ nào cũng mong muốn con cái trưởng thành và phát triển tối ưu. Tuy nhiên, trẻ cần có quá trình thích ứng theo đúng quy luật tự nhiên, nếu nôn nóng tập cho trẻ những kỹ năng sống quá sớm so với thời kỳ phát triển có thể sẽ lợi bất cập hại.


Tập đi

Độ tuổi thích hợp với trẻ: Khoảng 1 tuổi

Nguy hại khi cho trẻ tập đi sớm hơn?

- Ảnh hưởng đến sự phát triển hình thể của trẻ

Các chất keo trong xương khớp của trẻ khá nhiều, trong khi thành phần Canxi lại ít, vì vậy xương của trẻ còn rất mềm và non yếu, tổ chức cơ ở chi dưới và cơ duy trì độ cong của chân chưa phát triển hoàn chỉnh. Nếu cho trẻ tập đi trước 1 tuổi, thể trọng cơ thể tất yếu sẽ trở thành áp lực đè lên chân và cột sống, thời gian dài dễ khiến trẻ xảy ra tình trạng biến dạng chi dưới và cột sống. Ngoài ra, những đứa trẻ có xu hướng “mập mạp” thì càng không nên tập đi quá sớm trước độ tuổi thích hợp.

- Ảnh hưởng quá trình tập bò của trẻ

Tập bò có nhiều lợi ích đối với sự phát triển tự nhiên của trẻ. Nếu bạn cho trẻ tập đi quá sớm, bỏ qua cả giai đoạn “trung gian” này sẽ vô tình đánh mất những ảnh hưởng tích cực cho sự trưởng thành của trẻ.

Tập đi giày trượt

Độ tuổi thích hợp với trẻ: Sau 7 tuổi

Nguy hại khi cho trẻ tập đi giày trượt quá sớm?

- Dễ biến dạng chân

Bộ phận chân ở trẻ dưới 7 tuổi thực ra vẫn chưa phát triển hoàn thiện về xương, do đó khi tập cho trẻ đi giày trượt với tư thế hai chân thường “dạng” ra ngoài sẽ dễ khiến trẻ rơi vào tình trạng chân hình chữ X.

- Dễ tổn thương

Khi chơi giày trượt, phần hông, đầu gối và chân đều phải dung sức chống đỡ cơ thể, một khi trẻ chưa biết cách dung sức chính xác thì các bộ phận này rất dễ bị tổn thương. Do đó, tốt nhất là không nên cho trẻ dưới 7 tuổi chơi trò chơi này, thậm chí những trẻ dưới 12 tuổi cũng phải có người chỉ dẫn đúng cách khi chơi và thời gian chơi không nên quá dài.


Tập đi toilet

Độ tuổi thích hợp với trẻ: Khoảng 1 tuổi rưỡi đến 3 tuổi

Nguy hại khi cho trẻ tập đi toilet quá sớm?

Ở độ tuổi khoảng 2 tuổi, chức năng bàng quang của trẻ dần hoàn thiện, hệ thống thần kinh cũng đủ khả năng điều khiển các tổ chức ruột già, bàng quang và hậu môn. Lúc này, trẻ mới thật sự có tín hiệu cảm giác từ cơ thể rằng muốn đi toilet. Vì vậy, tốt nhất là khi trẻ chưa đủ 18 tháng tuổi, bạn không nên vội tập cho trẻ đi toilet để tránh ảnh hưởng đến sự phát dục của các cơ và hệ thần kinh.

Ngoài ra, nếu tập cho trẻ đi toilet quá sớm, trẻ chưa chuẩn bị đủ tâm lý sẽ có cảm giác bị áp lực và sinh ra phản ứng phản khác, thời gian dài nếu người lớn không biết xử lý thích hợp có thể khiến trẻ bị táo bón và trầm cảm.

Tập đi xe đạp

Độ tuổi thích hợp với trẻ: Khoảng 5 - 6 tuổi

Nguy hại khi tập cho trẻ đi xe đạp quá sớm?

Xương của trẻ vẫn đang trong giai đoạn không ngừng phát triển, sức của cơ cũng rất yếu. Nếu cho trẻ tập đi xe đạp quá sớm, phần chi dưới phải dùng sức rất lớn, thời gian dài có thể gây tình trạng căng cơ và xương chân bị tổn thương, gây bất lợi cho sự phát triển hình thể bình thường của trẻ.

Tập vẽ

Thời gian thích hợp với trẻ: Sau 1 tuổi rưỡi trẻ mới bắt đầu vẽ những đường tròn, sau 8 - 9 tuổi mới có thể học những kỹ năng vẽ thực sự.

Nguy hại khi cho trẻ tập vẽ quá sớm?

Những nét vẽ “tròn tròn” kỳ thực là hành vi tự phát ở trẻ, bạn không nên “cố tình” dạy trẻ phải vẽ hình tròn cho đúng hay các hình khác. Khi trẻ được 9 tuổi mới bước vào giai đoạn “chủ nghĩa tả thực thị giác”, lúc này góc nhìn khi trẻ quan sát sự vật mới gần với năng lực của người trưởng thành và là thời điểm thích hợp để trẻ học kỹ năng hội họa. Trước 9 tuổi, nhất là khi trẻ chưa đủ 6 tuổi, những thứ được trẻ “vẽ” ra là cách biểu đạt suy nghĩ của mình chứ không hề có kỹ năng hay chủ ý khác. Nếu miễn cưỡng trẻ học cách hội họa quá sớm có thể gây trở ngại cho sự nhiệt tình, trí tượng tưởng và tính sang tạo tự nhiên ở trẻ.

Tập đàn

Độ tuổi thích hợp với trẻ: Sau 6 tuổi

Nguy hại khi cho trẻ tập đàn quá sớm?

Trước độ tuổi đi học, xương và khớp của trẻ chưa phát triển hoàn chỉnh, nếu dùng sức tập đàn quá sớm có thể gây ảnh hưởng cho xương khớp ở tay.

Ngoài ra, trước 6 tuổi, thông thường các khả năng như ghi nhớ, tập trung, hiểu biết và ý chí của trẻ còn rất kém, khi được giáo dục học đàn chính quy quá sớm thật sự là một thử thách lớn với trẻ. Trẻ tập không tốt sẽ sinh ra cảm giác thất bại, tự tin, ảnh hưởng bất lợi cho việc hình thành tính cách sau này.

Trẻ chậm nói, khó khăn trong giao tiếp - Cha mẹ phải làm gì?

 Khi trẻ chậm nói tức là khả năng ngôn ngữ của trẻ chậm và kém hơn so với các mốc phát triển ngôn ngữ thông thường của trẻ nhỏ. Nhiều gia đình chủ quan nhưng cũng có nhiều gia đình lại lo lắng quá mức…

Trẻ chậm nói có hai khả năng; Trẻ chậm nói đơn thuần và chậm nói do khiếm khuyết về sự phát triển não bộ - chứng tự kỷ. Vì vậy khi trẻ chậm nói cha mẹ nên làm gì?

Mối liên quan giữa não bộ với ngôn ngữ của trẻ

Não bộ đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành ngôn ngữ ở trẻ. Chăm sóc sự phát triển não bộ cho trẻ cũng là giải pháp giúp bé cải thiện sự chậm nói. Hiện nay với trẻ chậm nói hoặc chậm nói được chẩn đoán do tự kỷ, ngoài việc hỗ trợ phương pháp can thiệp về ngôn ngữ, hành vi, thường được kết hợp song song sử dụng các sản phẩm bổ não đặc hiệu để giúp tăng cường trí não, tăng cường khả năng hoạt động của hệ thần kinh, tăng khả năng tập trung và phản xạ cho trẻ.

Nếu chúng ta hiểu biết nhiều hơn về việc não vận hành chức năng như thế nào để tiếp nhận và sử dụng ngôn ngữ, chúng ta có thể mở rộng thêm kỹ năng ngôn ngữ của tất cả trẻ em bao gồm cả những trẻ có những vấn đề về phát triển ngôn ngữ. 

 Khi trẻ chậm nói – cha mẹ nên làm gì?

Chia sẻ của phụ huynh có trẻ chậm nói

Chia sẻ của chị Võ Thị Kiều Trang (ngụ tại 124/79/5 Phan Huy Ích, P. Tân Bình, TP.HCM) có con chậm nói và chậm phát triển. Trong một thời gian dài tìm hướng điều trị cho con, chị đã giúp con cải thiện tốt ngôn ngữ và hòa nhập với bạn bè và môi trường sống.

Suốt những năm đầu nuôi con, chị không hề thấy con có biểu hiện gì khác thường cho đến khi bé 3 tuổi. Khả năng giao tiếp với mọi người của bé chỉ như một đứa trẻ lên 2. Ngôn ngữ mà bé sử dụng chỉ quanh quẩn vài từ đơn: ba, bà…Khi nói được nhiều hơn thì hay nói câu vô nghĩa và hay nói lại câu được hỏi…

Thấy những biểu hiện không bình thường của con, Chị đã tìm hiểu thông tin trên báo chí và các trang mạng, chị thấy con mình có những dấu hiệu giống trẻ tự kỷ… Chị rất lo lắng và hỏi han khắp nơi…

Cân nhắc mãi rồi Chị cũng quyết định đưa con vào khám ở khoa tâm lý Bệnh viện Nhi đồng I. Chị chia sẻ:  “Khi Bác sỹ chỉ vào những mô hình, con vật, chiếc xe… thì con đều trả lời chính xác. Nhưng khi hỏi ăn cơm chưa, con mấy tuổi thì con cũng hỏi ngược lại các Bác sỹ như thế. Bác sĩ chẩn đoán là con ở thể chậm phát triển ngôn ngữ và khuyên gia đình nên dạy bé từng từ, từng câu một kết hợp dùng sản phẩm bổ não để tăng cường trí não cho con” .

Chị chia sẻ thêm: “Trước đây tôi cũng được một mẹ giới thiệu là nên dùng sản phẩm bổ não cho con nhưng quả thật tôi chưa tin tưởng lắm. Nay được bác sỹ chỉ định cho con dùng nên tôi cũng tìm hiểu thêm qua các diễn đàn của các mẹ trên mạng và thấy rất nhiều mẹ chia sẻ là sử dụng cho con hiệu quả. Càng tin tưởng hơn khi tôi đọc được nội dung tạp chí đăng tải về kết quả nghiên cứu tại Bệnh viện Nhi Trung ương. Khi con uống cốm bổ não được hai hộp đầu kết hợp luyện nói cho con tôi thấy con có biểu hiện tốt hẳn lên, không còn hỏi ngược nữa, dần dần nói được nhiều hơn, hai vợ chồng tôi mừng lắm!”.

Chị Trang tâm sự: “…Có đứa con chậm nói thôi mà cả nhà lúc nào cũng lo âu, buồn bã. Từ ngày cho bé uống cốm bổ não kết hợp luyện tập đến giờ gia đình tôi luôn đầy ắp tiếng cười vì những câu nói ngộ nghĩnh, ngây thơ của con. Quả thật khi con nói được thì đáng yêu và hạnh phúc vô cùng…” Chị cũng đã giới thiệu cho rất nhiều người áp dụng phương pháp như của chị và các bé cũng khá lên rất nhiều.

Quan sát từng mốc phát triển của con trong những giai đoạn đầu đời để có phương pháp can thiệp kịp thời. Thời gian can thiệp càng sớm thì con sẽ có nhiều cơ hội cải thiện đảm bảo được sự phát triển như các trẻ cùng lứa tuổi.  Đặc biệt lưu ý với các trẻ có dấu hiệu chậm phát triển trí tuệ trong đó có tự kỷ, can thiệp sớm trước 2-3 tuổi có thể thay đổi hẳn tương lai của trẻ.

Mách mẹ mẹo hay để trẻ thích... đi học

Việc con xin được nghỉ đi học một hôm mà không ốm đau là điều khó chấp nhận đối với nhiều ông bố bà mẹ, trong trường hợp này bạn có cách xử lý thế nào?

Không phải là ngày nghỉ cuối tuần, nên việc con xin được nghỉ đi học một hôm mà không ốm đau hay bận bịu việc gia đình là điều khó chấp nhận với nhiều ông bố bà mẹ, không chỉ sẽ mất bài học của ngày hôm đó, lại thêm việc phải có người lớn ở nhà trông con là điều không thỏa đáng. Và chắc chắn, bé sẽ bị cha mẹ từ chối thôi, phải không?

Việc trẻ đang tuổi đi học, đến trường là điều thông lệ.

Cùng xem cách xử lý của những ông bố bà mẹ dưới đây cho tình huống này thế nào nhé!

Phân tích để con tự lựa chọn

Cha mẹ cần tìm hiểu tại sao con muốn nghỉ học, hỏi con một số câu hỏi để con tự lựa chọn rồi quyết định như: Thế bây giờ con có hai lựa chọn, một là con nghỉ học hôm nay thì tối con phải đến nhà cô giáo hoặc một bạn trong lớp để hỏi lại những gì cô giáo đã dạy trên lớp và chép vào vở, mà việc này rất mất nhiều thời gian và con cũng không thể biết được đầy đủ các nội dung cô giáo dạy trên lớp, con cũng không theo kịp các bạn, bố mẹ sẽ rất không vui.

Hai là, hôm nay con đi học thì tối con sẽ không phải đến nhà cô giáo hoặc bạn cùng lớp để hỏi lại bài hôm nay, vậy con chọn nghỉ học hay đi học...

Giải thích cho con hiểu ý nghĩa của việc đi học

Dạy cho con chúng ta học chăm chỉ, cố gắng phấn đấu để trở nên xuất sắc là một việc rất quan trọng. Có thể ngồi tâm sự xem lý do vì sao con muốn nghỉ... nếu con nghỉ mà các bạn và cô học bài, môn này môn khác mà con không biết, ngày mai con sẽ không hiểu gì, hóa ra con thua các các bạn sao...

Giải thích cho con biết: Bố mẹ cũng phải đi làm, nếu con nghỉ 1 ngày ở nhà thì chỉ còn cách bố mẹ sẽ khóa cửa lại cho con trong nhà không là bị kẻ xấu bắt cóc, con chỉ chơi một mình thôi, không có ai chơi cùng vì người lớn đi làm, mà các bạn hàng xóm đi học hết. Anh, (em) cũng phải đi học.

Con đến lớp sẽ rất vui, kể cho con rằng bạn A, B, C (là bạn thân của con) cũng đang đến lớp chờ con, nếu không có con bạn ấy rất buồn, cô giáo cũng nhớ con...

Một tuần chúng ta đã có 2 ngày nghỉ rồi, vậy những ngày trong tuần con nên đến lớp học và chơi được rất nhiều thứ, còn bố mẹ đi làm lấy tiền mua cho con thức ăn ngon, sữa và đồ chơi. Nếu con đòi ở nhà, bố hoặc mẹ cũng phải nghỉ để coi con, thế thì ông giám đốc hay trả lương cho bố mẹ không trả tiền thì mình lấy tiền đâu mà mua các thứ.

Hôm vừa rồi con đã được nghỉ rồi, con chỉ phải đi học 5 ngày nữa là đến ngày nghỉ tiếp, bố mẹ sẽ cho con sang nhà bác (cô, chú, ông, bà...) chơi. Đến lớp có đông bạn bè rất là vui chứ ở nhà sẽ buồn.

Xem con đang có nhu cầu cần một thứ gì mà bạn có thể mua trong tầm tay của bạn, bạn có thể thưởng cho con để động viên con đến lớp với tâm trạng phấn chấn, vui vẻ...

Việc con xin được nghỉ đi học một hôm mà không ốm đau là điều khó chấp nhận đối với nhiều ông bố bà mẹ.

Chỉ 1 buổi, mình sẽ vui vẻ đồng ý cho con nghỉ học

Mình sẽ đồng ý cho con nghỉ học một buổi để con có thể làm những gì mình thích nếu mình cảm thấy điều đó sẽ tốt hơn cho con vào thời điểm đó. Tuy nhiên, với thỏa thuận chỉ được nghỉ một ngày mà thôi.

Tuổi thơ ai cũng từng cắp sách tới trường, mình hiểu được cái áp lực học hành từ sách vở và những bài giảng trên lớp... khiến con trẻ có thể gặp rắc rối về vấn đề tâm lý. Và khi đó, chỉ có chúng mới biết được khi nào chúng cần được nghỉ ngơi để lấy lại tinh thần cho chuỗi ngày dài trên con đường học hành phía trước.

Và mình đã từng làm thế với con mình, và quả thực, sau một ngày được nghỉ ngơi, bé lại vui vẻ đến trường như mọi ngày mà không mè nheo được nghỉ thêm nữa, thay vì mặc cho con áp lực phải đến trường, hoặc tìm mọi cách để trốn học sẽ là điều nguy hiểm không tưởng.


Vẫn đồng ý cho con nghỉ học nếu con muốn, nhưng cha mẹ cần được biết lý do vì sao bé muốn nghỉ học ở nhà dù không ốm đau. 

Nếu lý do của con chính đáng, mình sẵn sàng xin nghỉ làm 1 hôm để đưa con đi chơi

Việc bé nhà mình xin nghỉ học một hôm dù không ốm đau hay bận bịu gì, lại không phải là ngày cuối tuần, mặc dù mình khó chấp nhận nhưng chắc chắn phải có lý do gì đó con mới làm thế.

Để giúp con thoải mái hơn, không những mình đồng ý viết giấy xin phép cô giáo cho con nghỉ ở nhà, mà mình sẵn sàng xin nghỉ làm một hôm để đưa con đi đến những nơi bé thích. Đồng thời mình cũng dành thời gian tâm sự cùng con để con thoải mái hơn trong việc chia sẻ những khó khăn về tâm lý trong thời điểm này.

Mình cũng cần được biết lý do vì sao bé muốn nghỉ học ở nhà dù không ốm đau, nhưng không phải bằng cách tra khảo hay ép buộc con phải nói ra.

Chỉ có cách dẫn dụ con tự nói, tâm lý của con trẻ mới không bị tệ hại hơn mà thôi. Và ngày hôm sau, chắc chắn con sẽ vui vẻ đến trường mà thôi.

6 mẹo cực hay trị thói mút tay ở trẻ

- Mút ngón tay là thói quen dễ gặp ở rất nhiều trẻ em. Tuy nhiên, thói quen xấu này rất khó bỏ và gây nguy hại nhiều cho sức khỏe của bé


Các bà mẹ trên toàn thế giới đều có những nỗi khổ giống nhau. Một trong số này là các bé hay thích mút ngón tay. Rất nhiều cha mẹ cố để ngăn chặn trẻ không mút tay nhưng không thể được và tình trạng này kéo dài đến tận khi bé lớn lên. Bài viết này sẽ cho bạn hiểu cách sơ bộ tại sao trẻ mút ngón tay cái, cho dù nó có hại và những gì bạn nên làm để từ bỏ thói quen này.

Thói quen mút ngón tay bắt đầu như thế nào?

Trong bụng mẹ, nhiều em bé đã cho sâu ngón tay vào trong miệng - có thể thấy trong rất nhiều bức ảnh siêu âm. Mút tay là một bản năng ăn sâu trong tiềm thức của các loài động vật có vú, vì nó rất quan trọng, đảm bảo khả năng ăn uống.

Thế nhưng mút tay cũng không chỉ liên quan đến vấn đề dinh dưỡng. Đó là cách để con trẻ đối phó với căng thẳng và áp lực. Điều đó giải thích tại sao nhiều em bé tiếp tục mút tay sau khi đã bú no sữa mẹ. Mẹ có thể khó chịu vì thói quen này nhưng điều đó lại an ủi tinh thần trẻ.

Khi bé lớn lên, chúng có thể mút toàn bộ bàn tay hoặc ngón chân. Mút ngón tay cái cũng giúp trẻ làm dịu những cơn đau nướu trong giai đoạn mọc răng. Một số trẻ em cũng mút ngón tay như một cách để dễ đi vào giấc ngủ. Khi mới tập đi, mút ngón tay đóng vai trò như núm vú, giúp trẻ bớt sợ hãi.



Các vấn đề sức khỏe khi trẻ mút tay

Về cơ bản, mút ngón tay chỉ là một nguồn an ủi của trẻ sơ sinh, và không phải là một vấn đề lớn ở tuổi lớn hơn. Tuy nhiên, nếu thói quen vẫn tồn tại khi trở lớn, nó có thể tạo ra các vấn đề sức khỏe khác nhau:

1. Vấn đề răng miệng

Mút ngón tay thường xuyên và mạnh sẽ làm xô lệch vị trí của răng. Các răng cửa trên có thể bị kéo ra ngoài và các răng phía trước thấp hơn có thể thụt vào. Xô lệch răng sữa sẽ ảnh hưởng tới cả hàm răng vĩnh viễn sau này.

2. Vấn đề về da

Ngậm tay quá nhiều có thể làm tổn thương làn da mỏng manh quanh ngón tay của trẻ. Nếu da quá mỏng sẽ rất dễ dẫn đến nhiễm trùng quanh móng.

3. Nhiễm trùng dạ dày

Con trẻ là một nhà thám hiểm và chạm vào tất cả mọi thứ chúng nhìn thấy. Khi trẻ đưa ngón tay vào miệng, tất cả mầm bệnh từ tất cả các bề mặt đi vào hệ tiêu hóa. Điều này rất dễ dẫn đến viêm nhiễm dạ dày, đặc biệt là trong mùa lạnh.

4. Định hình lại các hàm

Hàm của trẻ khá mềm vì nó vẫn còn trong giai đoạn phát triển. Mút ngón tay thường xuyên có thể điều chỉnh lại hình dạng hàm và rất khó để nắn lại.

5. Vấn đề giao tiếp

Trong trường hợp trầm trọng, mút ngón tay quá nhiều có thể thay đổi sự phát triển vòm miệng của trẻ. Qua đó, ảnh hưởng đến khả năng phát âm tròn vành, rõ chữ và chuẩn.

6. Bắt nạt

Một lý do hầu hết các bậc cha mẹ có vấn đề với việc trẻ mút tay vì nó thường được xem là hành vi "của trẻ con". Những đứa trẻ vẫn còn mút tay khi đi học có thể bị bạn bè trêu chọc và bắt nạt.


Các phương pháp giúp trẻ ngừng mút ngón tay

94% trẻ em sẽ ngừng mút ngón tay khi lên một tuổi, và hầu hết những trẻ còn lại bỏ mút tay trước khi đi học. Tuy nhiên, một số trẻ có thể vẫn giữ thói quen này. Trừng phạt, đe dọa hay tạo áp lực cho các con chỉ có thể phản tác dụng, vì vậy bạn cần phải dịu dàng. Dưới đây là một số cách đơn giản để dừng thói quen mút tay của trẻ.

1. Đối với nhiều trẻ, mút ngón tay là một thói quen họ làm mà không nghĩ. Khi bạn thấy con mút ngón tay, đánh lạc hướng trẻ với một cái gì đó. Tốt nhất, thu hút trẻ với các hoạt động đòi hỏi cả hai tay.

2. Nếu con của bạn mút ngón tay để bình tĩnh lại, tìm cho bé các phương pháp thay thế như yoga cho trẻ hay nghe nhạc êm dịu. Dần dần, trẻ sẽ học được cách để làm mình bĩnh tĩnh mà không cần mút ngón tay.

3. Nếu trẻ mút ngón tay do đang mọc răng, bạn có thể thử các phương pháp tự nhiên làm trẻ bớt khó chịu khi mọc răng.

4. Xác định các thời điểm trong ngày khi bé mút ngón tay. Nó có thể là trước bữa ăn hay buổi chiều nhàm chán. Nếu trẻ có thời gian biểu cố định, tìm cách thu hút trẻ trước khi bé mút tay.

5. Đeo găng có thể hạn chế trẻ mút ngón tay. Có thể bé sẽ la hét và khó chịu ban đầu nhưng dần dần sẽ hết.

6. Một phương pháp khác hơi khó chịu một chút nhưng hiệu quả là bôi nước cốt chanh hoặc giấm lên các đầu ngón tay. Vị chua sẽ khiến bé sợ mỗi lần đưa tay lên miệng.

Nguyên nhân và cách điều trị bệnh tưa lưỡi ở trẻ sơ sinh

 Tưa lưỡi thường xuyên xảy ra với trẻ sơ sinh và có thể nguy hiểm cho trẻ nếu bệnh này kéo dài quá 2 tuần.

Trẻ sơ sinh thường bị tưa lưỡi do nhiễm một loại nấm có tên là candida, hoặc tên khác là nấm miệng. Vậy, nguyên nhân của tưa lưỡi là gì, nó ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ sơ sinh thế nào và mẹ có thể làm gì để chữa trị bệnh cho con hiệu quả? Chúng ta hãy cùng tìm hiểu những vấn đề này trong bài viết dưới đây.

Nguyên nhân và mối nguy hại của tưa miệng với trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ

Cơ thể chúng ta mang sẵn rất nhiều các mầm bệnh, bao gồm các loại nấm và vi khuẩn. Một số loại vi khuẩn có lợi cho cơ thể, một số khác thì gây hại. Nấm candida là một trong những loại nấm có hại như vậy. Chúng gây ra tưa miệng khó chịu cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Các mẹ cần hiểu rõ về loại nấm bệnh này để chữa trị cho trẻ kịp thời.

Tưa lưỡi xảy ra khi nấm candida phát triển trong khoang miệng. Một lượng nhỏ loại nấm này sống trong miệng chúng ta hầu hết thời gian và hỗ trợ trong việc kiểm soát hệ miễn dịch, các loại vi trùng khác sống trong miệng chúng ta cũng vậy.

Tuy nhiên, khi hệ miễn dịch kém và các vi khuẩn bình thường khác chết, nấm có cơ hội phát triển và gây ra tưa lưỡi. Cụ thể, các trường hợp dễ bị tưa lưỡi nhất bao gồm:


-    Người có sức khỏe yếu
-    Người già, trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ
-    Người bị HIV hoặc AIDS
-    Người sử dụng kháng sinh liều cao và dài ngày
-    Người điều trị hóa chất hoặc thuốc gây suy yếu hệ miễn dịch
-    Người uống thuốc có chứa xteoit
Tưa lưỡi thường xuyên xảy ra với trẻ sơ sinh, nhưng có thể nguy hiểm cho trẻ nếu bệnh này kéo dài quá 2 tuần.

Triệu chứng của tưa lưỡi

Biểu hiện rõ ràng nhất của tưa lưỡi là những đám màu trắng dày bám trên lưỡi và miệng. Bên dưới các bạt màu trắng đó là các mô màu đỏ bị sưng và có thể bị chảy máu. Các vết loét có thể xuất hiện, mở rộng nếu nấm trắng trên lưỡi và trong khoang miệng không được điều trị. 

Không cần xét nghiệm, chỉ cần nhìn bằng mắt bác sĩ cũng có thể chẩn đoán ra bệnh tưa miệng dù các vết loét miệng có nhiều hình dạng khác nhau. Nếu không chắc chắn, bạn cũng có thể kiểm tra miệng trẻ bằng cách đặt kính hiển vi sát vào lưỡi để nhìn các biểu hiện trên lưỡi trẻ.

Điều trị tưa lưỡi

Điều trị tưa lưỡi ở trẻ dường như không cần thiết, vì thông thường tình trạng có thể tự được khắc phục trong vòng 2 tuần. Tuy nhiên, bác sĩ vẫn kê đơn thuốc chữa nấm cho trẻ trong trường hợp trẻ bị tưa lưỡi nặng và trẻ có sức đề kháng kém. Nếu dùng thuốc, bạn cũng chỉ nên giới hạn thời gian dùng thuốc của trẻ từ 5 – 10 ngày. Nếu trẻ có hệ miễn dịch tốt, tưa lưỡi sẽ nhanh chóng bị hết sớm hơn 2 tuần mà không cần chữa trị.

Trong các trường hợp sau, bạn nên gọi cho bác sĩ:
-    Nếu trẻ có các vết lở loét ở lưỡi và miệng quá 2 tuần
-    Trẻ bú hoặc ăn ít đi do vết thương ở lưỡi gây khó chịu
-    Trẻ đau và khó nuốt 

Phòng ngừa tưa lưỡi

Mẹ có thể phòng ngừa tưa lưỡi cho con hiệu quả nếu áp dụng một vài biện pháp sau đây:
-    Nếu con bạn bị tưa lưỡi trong giai đoạn đang bú sữa mẹ, hãy thay núm bình sữa mới để cho con bú.
-    Không dùng chung bình sữa với những trẻ khác.
-    Mẹ không cho con mình bú bình sữa của trẻ nhỏ bị tưa lưỡi khác .
-    Khử trùng bình sữa, núm bình sữa và vệ sinh núm vú của mình sạch sẽ trước và sau khi cho con bú.

Những dấu hiệu cảnh báo trẻ chậm phát triển thể chất

Hầu hết trẻ đều theo những mốc chung. Nếu nhận thấy con mình dường như không đạt được những mốc này dù đã cộng thêm vài tuần xê xích, đó có thể là những dấu hiệu cảnh báo trẻ chậm phát triển thể chất...

Trẻ con phát triển với những tốc độ khác nhau, nhưng hầu hết đều theo những mốc chung. Nếu nhận thấy con mình dường như không đạt được những mốc này dù đã cộng thêm vài tuần xê xích, đó có thể là những dấu hiệu cảnh báo trẻ chậm phát triển thể chất, bạn hãy đưa bé đi khám. Có thể con bạn không sao đâu, nhưng nếu bé có bị hơi chậm phát triển một chút thì việc phát hiện sớm sẽ giúp bé sớm được chẩn đoán và giúp đỡ.

Dưới đây là một số dấu hiệu có thể cảnh báo trẻ chậm phát triển thể chất:

Giai đoạn bé mới được sinh ra đến 2 tháng tuổi:

- Sau 2 tháng, bé vẫn không giữ đầu lên được khi bạn nhấc bé lên từ tư thế nằm ngửa;
- Sau 2 tháng, bạn thấy bé vẫn còn cảm giác đặc biệt mềm oặt;
- Sau 2 tháng, bé cong lưng và cổ, như thể đang giãy xa khỏi bạn khi bạn bế bé trong tay;
- Sau 2-3 tháng, bé gồng cứng hoặc bắt chéo chân khi bạn nhấc bé lên.

Giai đoạn bé 3-6 tháng tuổi:

- Sau 3-4 tháng, bé vẫn không nắm hoặc với lấy đồ chơi;
- Sau 3-4 tháng, bé vẫn không đỡ được đầu mình;
- Sau 4 tháng, bé vẫn không đưa thứ gì lên miệng;
- Sau 4 tháng, bé vẫn không biết nhấn chân khi được giữ đặt bàn chân lên bề mặt vững chắc;
- Sau 4 tháng, bé vẫn còn phản xạ Moro (khi bị ngã ngửa ra sau hoặc khi giật mình, bé sẽ vung chân tay, duỗi cổ, sau đó nhanh chóng co tay chân lại và bắt đầu khóc);
- Sau 5-6 tháng, bé vẫn còn phản xạ ATNR (khi xoay đầu sang một bên, cánh tay bên phía đó của bé duỗi thẳng ra, trong khi cánh tay bên còn lại cong);
- Sau 6 tháng, bé vẫn chưa thể ngồi được dù được đỡ;
- Sau 6 tháng, bé vẫn chỉ với một tay ra trong khi tay kia nắm.


Giai đoạn bé 7-9 tháng tuổi:

- Sau 7 tháng, bé vẫn khó kiểm soát được đầu mình khi ở tư thế ngồi;
- Sau 7 tháng, bé vẫn không thể đưa thứ gì vào miệng;
- Sau 7 tháng, bé vẫn không với lấy các đồ vật;
- Sau 7 tháng, bé vẫn không chịu được trọng lượng trên chân;
- Sau 9 tháng, bé vẫn không thể tự ngồi.

Giai đoạn bé 9-12 tháng tuổi:

- Sau 10 tháng, bé bò không đúng cách, chỉ nhấc một bên chân tay trong khi kéo lê chân tay còn lại;
- Sau 12 tháng, bé vẫn không biết bò;
- Sau 12 tháng, bé vẫn không thể đứng dù được giúp đỡ.

Giai đoạn bé 13-24 tháng tuổi:

- Sau 18 tháng, bé vẫn không thể bước đi;
- Sau nhiều tháng biết đi, bé vẫn không thể bước một cách tự tin hoặc thường xuyên đi nhón gót;
- Sau khi được 2 tuổi, chiều cao của bé tăng chậm hơn 5cm mỗi năm.

Giai đoạn bé 36 tháng tuổi:

- Bé thường xuyên bị ngã, hoặc không biết đi cầu thang;
- Bé thường xuyên chảy nước dãi;
- Bé không thể cầm được những đồ vật nhỏ.

Bạn cũng hiểu rõ sẽ chẳng thể có chuyện em bé đến 3 tuổi vẫn bé như sơ sinh, không biết nói, rồi đột nhiên lớn phổng lên thành Thánh Gióng đánh giặc. Hãy tin vào bản năng người mẹ của mình, khi cảm nhận thấy bất cứ điều gì có vẻ không ổn ở con, bạn hãy hỏi ngay nhé!

Mẹo giúp bé biết tự ăn ngay từ tuổi tập đi

Ở tuổi tập đi, các bé bắt đầu tỏ rõ sự độc lập của mình ngay cả trong việc ăn uống. Đây là cơ hội thích hợp để bạn tập cho bé con của mình cách tự ăn thay vì phải được mẹ đút từng thìa như trước kia

Tin mừng cho mẹ, đó là ở tuổi tập đi, kỹ năng sử dụng bàn tay và các ngón tay của bé đã khéo léo hơn rất nhiều. Mẹ có thể quan sát thấy con trở nên thành thạo hơn khi uống nước bằng ly, khi cầm thìa để dằm hay đút thức ăn vào miệng. Có thể nói, bé đang rất háo hức để thử kỹ năng này. Đây là khởi đầu thích hợp để bé tập ăn một mình, giảm dần sự trợ giúp của mẹ.

Mẹo giúp bé tập ăn một mình

Chuẩn bị 2 chiếc thìa: Mẹ và bé đều cầm chiếc thìa của mình. Mẹ hãy múc thức ăn và chờ bé bắt chước theo. Có thể bé sẽ giành thìa của mẹ. Nếu có, mẹ hãy trao đổi thìa với bé để bé khám phá cách múc và ăn thức ăn từ thìa của mẹ nhé.
Tạo ra những món dễ xúc và dính vào thìa: Mẹ nên chuẩn bị một số món mềm và dễ dính vào thìa để bé dễ dàng xúc được thức ăn và cho vào miệng.
Chú ý dụng cụ ăn uống:  Bộ thìa, nĩa hay đũa của bé nên có kích thước thích hợp với đôi tay. Nên dùng đầu thìa hay nĩa lớn, tròn và không sắc. Mẹ không nên chọn những thìa, nĩa và bát chén dùng một lần, chúng rất dễ vỡ hoặc nhăn nhúm, cản trở quá trình tập ăn của bé.


Kiên nhẫn khuyến khích và chờ đợi

Việc tập ăn cũng như tập đứng, tập đi, nhìn chung đều cần nhiều thời gian thực hành. Việc trải qua những bữa ăn bừa bãi, thức ăn vương vãi khắp nhà cũng là điều dễ hiểu. Nhưng tốt nhất, mẹ nên để bé tự mày mò với đôi tay của mình. Hãy yên lặng quan sát và chỉ giúp đỡ bé khi cần thiết.

Tập cho con cách cư xử trên bàn ăn

Muốn bé trở thành quý cô/ quý ông trong tương lai? Mẹ đừng quên việc tập cho con thói quen ăn uống lịch sự ngay từ bước khởi đầu. Một số gợi ý thích hợp với các bé trong lứa tuổi này:
-Mẹ hãy “lôi kéo” con vào cuộc nói chuyện ở bàn ăn
-Mẹ luôn ăn các loại thực phẩm giàu dinh dưỡng trước mắt bé. Đừng bảo con phải ăn món A, B khi mà bạn chẳng bao giờ đụng đến chúng.
-Cư xử lịch sự trong bàn ăn. Chẳng hạn, nói “cảm ơn”. Chẳng bao lâu sau bé sẽ nắm bắt những điều này và thực hành thành thạo.
Từ 8 tháng tuổi, bé đã có thể tự cầm và ăn thức ăn. Sang đến tháng thứ 13, bé bắt đầu chú ý đến việc sử dụng đồ dùng ăn uống như muỗng, nĩa. Vào khoảng 18 tháng, bé sẽ biết phối hợp các dụng cụ khác nhau vào việc ăn uống của mình. Mẹ hãy theo dõi hành trình khám phá thực phẩm và tự ăn uống của con nhé.

Giúp trẻ giảm nguy cơ cận thị

Theo các chuyên gia của Đại học Cambridge (Anh) cho biết, trẻ em có nhiều thời gian hoạt động ngoài trời sẽ giảm thiểu nguy cơ bị cận thị.

Qua phân tích 8 công trình nghiên cứu đã cho thấy, cứ tăng thêm một giờ chơi ngoài trời mỗi tuần, thì nguy cơ trẻ phải đeo kính cận giảm đi 2%.

Các nhà nghiên cứu đã phát hiện rằng môi trường sống xung quanh mà chật hẹp sẽ dẫn đến chứng cận thị. Ngược lại, các hoạt động ngoài trời giúp bảo vệ trẻ khỏi ảnh hưởng không tốt này. Theo các chuyên gia nhãn khoa, ánh sáng mặt trời có khả năng giảm thiểu chứng cận thị bằng cách giúp não tiết ra một chất hóa học được cho là ngăn chặn tốc độ lão hóa của mắt. Việc tiếp xúc với ánh sáng tự nhiên và dành thời gian quan sát vật thể ở xa có thể là tác nhân quan trọng nhất. Ngoài ra, có thể còn do việc chơi ngoài trời khiến trẻ ít khi phải nhìn gần, tiếp xúc với ánh sáng cực tím tự nhiên và gia tăng các hoạt động thể chất.

Khuyến khích trẻ tham gia các hoạt động ngoài trời giúp trẻ ngăn ngừa tật cận thị.

Chứng cận thị là do mắt phát triển quá thể. Tốc độ phát triển (hay lão hóa) của mắt sẽ gia tăng từ 15 - 20 hay 25% trong khoảng thời gian 30 năm. Cho đến nay, nhóm nghiên cứu này vẫn chưa tìm ra lời giải đáp rõ ràng cho việc làm thế nào các hoạt động ngoài trời lại có thể giúp bảo vệ mắt con người khỏi bị cận thị. Nhưng họ cho rằng bức xạ của ánh sáng mặt trời làm cho mắt không bị lão hóa nhanh chóng.

Bên cạnh đó, cận thị của đôi mắt có liên quan đến dinh dưỡng. Theo một kết quả nghiên cứu, những người bị cận thị đều thiếu 2 nguyên tố chính đó là crôm và canxi. Hai chất này ảnh hưởng đến sự điều tiết áp lực của mắt, là nguyên nhân gây ra tật cận thị.Các loại khoáng chất, vitamin A, vitamin B2 chính là những chất bổ của đôi mắt. Vitamin A giúp mắt nhìn rõ trong bóng tối. Thiếu vitamin A, mắt sẽ bị quáng gà, giảm thị lực, nhất là đối với người đọc sách, làm việc với máy vi tính nhiều. Vitamin B2 tham gia vào sự trao đổi sắc tố ở võng mạc mắt, làm cho mắt thích nghi với ánh sáng.

Vì vậy, để ngăn ngừa cận thị cho trẻ, cần áp dụng những nguyên tắc sau:
Đảm bảo đủ ánh sáng khi trẻ học trong lớp hoặc ở nhà.
Kích thước bàn, ghế phù hợp với tuổi và chiều cao của trẻ.
Duy trì cho trẻ một tư thế học tập khoa học: Ngồi thẳng lưng, đầu cúi 10 - 15 độ. Khoảng cách từ mắt đến sách vở trên bàn học là 25cm.

Tập cho trẻ có chế độ nghỉ ngơi cho mắt hợp lý: Ngồi cách màn hình vi tính từ 45cm đến 60cm. Cần nghỉ ngơi 5 - 10 phút sau mỗi 30 - 40 phút học tập trên máy vi tính. Xem ti-vi hoặc chơi trò chơi điện tử không quá 2 giờ/ngày.

Cần đảm bảo ngủ 8 - 10 giờ mỗi ngày. Không nằm, quỳ để đọc hoặc viết bài. Không đọc khi đang ngồi trên ôtô, hoặc trong ánh sáng yếu. Điều quan trọng khuyến khích trẻ tham gia các hoạt động ngoài trời giúp ngăn ngừa tật cận thị.

Phải làm gì khi con nói bậy?

 Thi thoảng các bậc phụ huynh vẫn nghe con mình nói bậy chửi tục với mọi người xung quanh, thậm chí ở trường học. Nếu bạn gặp trường hợp này thì bạn sẽ làm gì?

Việc sử dụng ngôn ngữ không trong sáng, thiếu tôn trọng người khác được xem là hành động không thể chấp nhận được ở tất cả mọi người. Đặc biệt là trẻ nhỏ. Chính vì thế, khi phát hiện con nói bậy, bạn cần có biện pháp xử lý kịp thời để hạn chế tối đa việc này.


Nguyên nhân khiến trẻ nói bậy

Trên thực tế có rất nhiều nguyên nhân hình thành thói quen nói bậy cho trẻ, nhất là ở độ tuổi tập nói từ 1 đến 3 tuổi và lớn hơn từ 4 đến 7 tuổi. Dưới đây là một số nguyên nhân chủ yếu tác động chính đến cách sử dụng từ ngữ hằng ngày của trẻ ở giai đoạn này và lớn lên:

- Do môi trường tác động: Một gia đình có nhiều thành viên lớn nói bậy, dùng những từ ngữ không trong sáng là nơi tiềm ẩn những ảnh hưởng xấu đến việc dùng từ ở trẻ. Nếu bố mẹ, ông bà hay những người thân thiết thường xuyên tiếp xúc dùng các từ bậy thì trẻ cũng bắt chước theo.

- Do trẻ không được giáo dục nghiêm khắc, sửa lỗi từ bé: Nếu trẻ nói bậy từ nhỏ mà phụ huynh không giải thích, xử lý ngay thì lớn lên, trẻ sẽ có thói quen hằng ngày mà rất khó bỏ. Trẻ nói bậy nhưng người lớn lờ đi hoặc nói cho qua chuyện thì rất khó uốn nắn về sau.

- Do tâm lý muốn bằng bạn, bằng bè: Trẻ nhỏ không thích thua kém bạn bè và cực kỳ hiếu động. Khi thấy bạn ở trường nói bậy thì cũng dùng từ tương tự. Tâm lý này thường thấy ở trẻ đã đến trường.


- Do tiếp thu từ phim ảnh, mạng internet, các thiết bị công nghệ: Trẻ dùng điện thoại, xem ti vi nhiều trong ngày. Nhất là các chương trình sử dụng từ lóng, từ bậy thì trẻ cũng dễ bị ảnh hưởng rất nhanh. Chính vì thế, bố mẹ nên hạn chế cho trẻ dùng thiết bị kỹ thuật số. Nếu trẻ dùng thì nên quản lý, kiểm soát các chương trình, trò chơi trẻ xem để điều chỉnh ngay.

- Do tâm lý bắt chước khi lên 3: Độ tuổi này trẻ đang tập nói nên rất dễ bắt chước những ngôn ngữ mới lạ, tò mò. Môi trường xung quanh nhiều người thường nói tục, chửi bậy thì rất khó để trẻ tránh được việc nói bậy.

- Do trẻ bị phớt lờ trong một vài trường hợp: Với những gia đình trẻ ít được quan tâm trò chuyện cũng dẫn đến trẻ hay nói bậy để gây sự chú ý và tìm người chơi cùng. Chính vì thế, bố mẹ cần chú ý dành thời gian nói chuyện, chơi cùng con để trẻ tránh được cảm giác cô đơn, lạc lõng.

Biện pháp xử lý khi trẻ từng nói bậy

Nếu con bạn đã có thói quen nói bậy, dù chỉ là lần đầu, bạn không nên xem đó là chuyện bình thường. Bởi nói bậy không chỉ là cách sử dụng ngôn ngữ mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến nhận thức, nhân cách và cách sống của trẻ.


Một đứa trẻ có giáo dục, ngoan ngoãn không bao giờ được công nhận nếu thường xuyên nói bậy với mọi người xung quanh. Dưới đây là một số cách xử lý cần áp dụng khi trẻ nói bậy đã đem lại hiệu quả cao trong thực tế:

1. Tìm hiểu nguyên nhân

Trước khi xử lý, bạn cần tìm hiểu nguyên nhân làm cho trẻ có hành động như vậy. Dựa vào các nguyên nhân trên, nếu bạn nói bậy vì lý do nào thì bạn hãy tìm cách giải quyết nguyên nhân đó triệt để. Để tìm được câu trả lời chính xác nhất khi bắt gặp trẻ dùng từ ngữ không đúng, bạn nên nói chuyện nhẹ nhàng với trẻ.

Hỏi trẻ xem tại sao con nói bậy như thế? Trước đó nên cho trẻ biết nói bậy là gì và những từ ngữ như thế nào gọi là bậy, tuyệt đối không được dùng.

2. Giữ thái độ bình tĩnh

Trẻ nói bậy là không nên nhưng khi xử lý bạn cần hết sức bình tĩnh. Lắng nghe tình huống, trẻ hành động như thế để giải quyết ngay.

3. Không nói bậy để gương cho con

Việc đầu tiên để dạy trẻ không nói bậy thì chính phụ huynh phải là người đầu tiên không được nói bậy. Điều này vừa hình thành thói quen tốt cho con vừa giúp bạn dạy con hiệu quả hơn.

4. Xử lý thật nặng khi trẻ tái phạm

Trẻ nói bậy một cách vô thức nên rất hay lặp lại. Vì thế, để hạn chế tối đa tần suất nói bậy ở trẻ, bạn cần có thái độ cứng rắn, dứt khoát trong những lần trẻ tái phạm hành động trên.


Không nhất thiết phải đánh con, bạn có thể lấy đi một đồ chơi trẻ yêu thích, không cho trẻ xem một bộ phim hoặc phạt trẻ viết giấy xin lỗi.

5. Khen thưởng khi trẻ sửa lỗi

Bên cạnh việc phạt thì trong trường hợp trẻ không còn nói bậy trong một thời gian thì bạn cũng nên thưởng cho trẻ. Điều này khích lệ hành động tốt ở trẻ để con phát huy. Dần dần trẻ sẽ có tâm lý muốn ngoan, không nói bậy để không bị phạt mà còn được thưởng.

6. Dạy trẻ cách kiềm chế cảm xúc

Nhiều trẻ nói bậy khi không kiểm soát được cảm xúc của bản thân. Để khắc phục hoàn toàn việc nói bậy bạn chỉ cần chỉ cho trẻ cách kiềm chế cơn tức giận của mình. Trẻ có thể hít thở, im lặng hoặc vào phòng yên tĩnh.

7. Phối hợp với nhà trường thầy cô

Nguyên nhân bắt chước bạn ở trường khiến trẻ nói bậy cũng không hề nhỏ. Vì thế, để xử lý bạn cần phối hợp với nhà trường, thầy cô để giải quyết việc nói bậy ở con một cách triệt để nhất.

8. Giải thích về việc nói bậy không tốt

Bạn nên chỉ cho trẻ những từ ngữ như thế nào là nói bậy và nói bậy có ảnh hưởng như thế nào đến trẻ. Nói bậy làm cho trẻ không được yêu quý, không được giấy khen...vv.. Từ đó trẻ sẽ biết được nói bậy không tốt và nên hạn chế. 

Thực hiện đầy đủ những điều trên, bạn sẽ hạn chế tối đa việc trẻ nói bậy.

Tiêm phòng cho trẻ: Mẹo giúp bé hết sợ kim tiêm

Chẳng phải đợi gì đến kỳ tiêm phòng cho trẻ, bình thường khi con ốm sốt cần đến chích thuốc, bé con nhà bạn khóc giãy nảy lên. Chỉ cần dọa đi bác sĩ hay đến bệnh viện thôi, bé cũng đã sởn hết gai ốc. Đôi khi sự bất hợp tác này làm các y bác sĩ rất khó khăn trong việc thực hiện trách nhiệm của mình. Mẹ phải làm gì để giúp con vượt qua nỗi sợ hãi này đây?

Nếu không giúp trẻ thôi không sợ kim tiêm và hợp tác hơn mỗi khi chích thuốc, đặc biệt là vào những dịp tiêm phòng cho trẻ, ba mẹ đã vô tình tạo điều kiện cho nỗi ám ảnh này lớn dần lên và theo bé suốt cả cuộc đời về sau. Điều này đã được minh chứng rằng đa phần những người sợ kim tiêm đều bắt nguồn từ thủơ thơ ấu. Tin tốt là với vài chiến lược đơn giản sau, ba mẹ có thể giúp con bớt sợ hãi, kiểm soát cơn đau dễ dàng hơn và giảm nguy cơ phát triển nỗi ám ảnh này trở nên không thể cứu chữa.

Không tính đến những lần chích thuốc do bệnh tật, thông thường trẻ phải chích ngừa trên dưới 20 mũi trước khi lên 5 tuổi. Vì vậy, kim tiêm nói chính xác là một phần thiết yếu cho sức khỏe của trẻ, giúp chống lại sự lây lan của virus như sởi, ho gà, rubella hay uốn ván. Tùy vào độ tuổi của bé, ba mẹ nên áp dụng phương pháp khác nhau.

1/ Đối với trẻ sơ sinh

Sự an ủi, vỗ về chính là chìa khóa giúp trẻ đỡ căng thẳng hơn. Khi đưa trẻ đi tiêm phòng hoặc chích thuốc, mẹ nên giữ bình tĩnh, ôm bé thẳng đứng. Trấn an trẻ bằng cách cho con bú trước, trong và sau khi tiêm. Cho bé uống chút nước đường cũng là mẹo giảm đau hiệu quả. Ngoài ra, còn có gel giảm đau, tránh dùng thuốc giảm đau đường uống dưới mọi hình thức.

2/ Đối với trẻ biết đi

Trước vài giờ đi tiêm phòng hoặc vài ngày, bạn nên nói chuyện với bé về chuyện nhận một mũi tiêm quan trọng như thế nào, và tuyệt đối không đả động gì đến vấn đề đau đớn. Trong lúc tiêm, đánh lạc hướng bé bằng những trò chơi, hát hoặc thậm chí phá lệ cho bé chơi máy tính bảng, điện thoại thông minh trước, trong và sau khi tiêm. Gel giảm đau cũng có thể áp dụng được với bé ở lứa tuổi tập đi.

3/ Đối với trẻ đã đi học

Đừng để nỗi sợ kim tiêm phát triển thành sự ám ảnh về sau của trẻ

Dạy bé cách hít thở sâu, đồng thời đánh lạc hướng trẻ sẽ giúp con bớt căng thẳng hơn mỗi khi đi chích thuốc. Khi bé lớn hơn, mẹ đã có thể giải thích cặn kẽ và chi tiết về tầm quan trọng thực sự về một mũi tiêm, đảm bảo với bé rằng cảm giác đau chỉ là phù du, một phát như kiến cắn thế là xong.

Mua cho trẻ một cây kem, một cuốn truyện để đọc, và xem đây như là phần thưởng cho sự dũng cảm của trẻ.

4/ Làm gì nếu trẻ không nguôi lo sợ?

Để cho việc chích thuốc được diễn ra suôn sẻ, ba mẹ nên để trẻ lại với y bác sĩ nếu trẻ la khóc dữ dội. Lúc này, lời nói an ủi thực sự vô ích. Vì vậy, tránh sang một bên để bác sĩ làm nhiệm vụ. Ngoài ra còn một điều quan trọng ba mẹ nên tránh, nếu một trong hai người không thể giữ bình tĩnh khi thấy con khóc hoặc cũng khá sợ việc chích thuốc, đừng nên đi cùng trẻ. Tâm lý lo lắng của bạn sẽ bị trẻ nắm thóp, từ đó trẻ càng sợ hơn.

Sau khi tiêm, đừng quên khen ngợi trẻ đã làm một việc rất tốt và đáng tuyên dương, ngay cả khi bé đã khóc thét vì sợ hãi. Thay vì nói “Việc gì phải khóc, chỉ là tiêm thôi mà”, ba mẹ nên tập trung vào điều tốt đã diễn ra, đó là việc tiêm thuốc đã xong xuôi, và trẻ đã hợp tác rất tốt.