Hiển thị các bài đăng có nhãn chăm sóc trẻ sau sinh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn chăm sóc trẻ sau sinh. Hiển thị tất cả bài đăng

Trớ sữa ở trẻ sơ sinh

Rất nhiều trẻ sau khi bú xong thường bị trớ sữa ra ngoài, quan sát thất tinh thần vẫn tốt, khi trớ không có biểu hiện khó chịu, nhìn chung đây cũng là hiện tượng sinh lý bình thường, chỉ cần áp dụng phương pháp chăm sóc hợp lý là có thể xử lý được. Vậy vì sao bé lại bị trớ sữa? Cha mẹ nên làm thế nào?

Hình ảnh minh họa.

1. Nguyên nhân trẻ bị trớ sữa

Trớ sữa có liên quan đến đặc điểm giải phẫu và do hệ thống tiêu hóa của trẻ sơ sinh còn chưa hoàn thiện. Dạ dày của người trưởng thành nằm theo chiều hơi nghiêng, có thượng vị và môn vị phát triển như nhau. Còn trẻ sơ sinh, dung tích dạ dày còn nhỏ, cơ môn vị phát triển, đóng rất chặt, cơ thượng vị chưa phát triển, mở rất lỏng. Vì vậy khi trẻ ăn quá no hoặc nuốt không khí quá nhiều dễ bị trớ sữa, nó không ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của bé.

2. Cách khắc phục khi trẻ bị trớ sữa

- Khi cho trẻ bú xong, hãy bế dựng bé dậy, vỗ nhẹ vào lưng để bé ợ hơi, bé sẽ ợ hết không khí bé nuốt ra ngoài.

- Khi ngủ cố gắng để cho trẻ gối đầu cao, nằm nghiêng bên phải, trẻ sẽ giảm được hiện tượng này.

- Khi trẻ bị trớ, cho trẻ cúi đầu nghiêng thấp người, vuốt xuôi nhẹ vào lưng.

- Không nên cho trẻ bú quá no trong một lần bú.

Viêm rốn ở trẻ sơ sinh

Thời gian rụng rốn ở mỗi trẻ là khác nhau, nhìn chung là từ 1 – 2 tuần sau khi sinh. Vì cuống rốn và mạch máu thông nhau, nếu chăm sóc không tốt, vi khuẩn có thể xâm nhập, nhẹ thì dẫn đến viêm xung quanh rốn, nặng sẽ gây bệnh nhiễm trùng máu, có thể nguy hiểm đến tính mạng.

Hình ảnh minh họa.

1. Vì sao trẻ bị viêm rốn

Viêm rốn ở trẻ sơ sinh do khi cắt rốn hoặc đầu dây rốn sau sinh bị nhiễm khuẩn. Phân rốn sau khi sinh thường bị ẩm ướt, dễ tích tụ chất bẩn, hơn nữa dịch máu ủ đọng lại sau khi cắt rốn là cơ sở tốt để vi khuẩn hoạt động, gây viêm nhiễm.

2. Cách phòng tránh khi trẻ bị viêm rốn

Giữ cho rốn được khô ráo: Trước khi trẻ rụng rốn nên giữ rốn khô ráo, khi tắm tránh làm ướt cuống rốn, sau khi tắm xong dùng cồn 70 độ lau khô, dùng băng cuốn xung quanh tổn thương.

Tránh cọ xát: Nên sử dụng loại băng rốn thích hợp, không quá to hoặc không quá nhỏ, khi trẻ hoạt động dễ cọ xát vào cuống rốn, gây tổn thương da, thâm chí xước da chảy máu.

Tránh nóng bức: Tránh để mồ hôi, dịch sữa, và các loại dầu xoa nhỏ và phần rốn để tránh nhiễm khuẩn. Nên dùng loại băng rốn y tế chuyên dụng đã qua tiệt trùng để đảm bảo an toàn.

Các mẹ lưu ý sau khi rụng rốn, phần rốn vẫn còn ẩm, quan sát thấy có màu phấn hồng, nếu thấy có nổi cục nhỏ như hạt đậu xanh, đặc biệt giống như chùm nhỏ, đó là biểu hiện của rốn bị viêm, khi đó nên cho trẻ đi khám bác sỹ ngay

Chế độ ăn dặm cho trẻ suy dinh dưỡng

Bé nhà tôi đã được 7 tháng tuổi, cân nặng 7,4 kg. Hằng ngày cháu ăn bột 2 lần và 180 ml sữa bột công thức, bú mẹ 7 cữ, cháu thường hay ra mồ hôi ở đầu và lưng. Đến nay cháu chưa có cái răng nào? Vậy bác sĩ cho tôi hỏi cháu ăn và bú sữa như vậy là đủ chưa? Cháu có bị suy dưỡng hay không? Nếu cháu bị suy dinh dưỡng thì phải làm cách nào? Hai tháng gần đây nhất cháu tăng cân mỗi tháng là 0,5 kg.


Trả lời

Chào bạn

Em bé 7 tháng tuổi có cân nặng trung bình 8,3 kg, như vậy cháu bé ở mức dọa suy dinh dưỡng. Thông thường bé tăng khoảng 400-500g/ tháng ở những tháng này.

Cháu chưa mọc răng, ngoài ra có đổ mồ hôi, những biểu hiện này có thể do thiếu năng lượng cũng như canxi và/hoặc vitamin D. Nếu sữa mẹ nhiều thì khả năng cháu thiếu vitamin D do phơi nắng chưa đủ hoặc chưa đúng cách. Vitamin D rất cần cho việc hấp thu và sử dụng canxi trong cơ thể, thiếu vitamin D có biểu hiện giống như thiếu canxi, cho dù canxi trong thức ăn không bị thiếu.

Ở tuổi này, cháu cần 2 chén bột đặc/ ngày, nấu đủ 4 nhóm thức ăn. Bạn tham khảo thêm cách chế biến chén bột, cháo cho trẻ trên website của Bệnh viện Nhi đồng 2 xem có gì chưa hợp lý thì có thể điều chỉnh. Đa số những bé không lên cân ở tuổi này là do thiếu dầu, dẫn đến thiếu năng lượng trong khẩu phần ăn.

Chúc cháu hay ăn, chóng lớn, khỏe mạnh nhé!

Để con tự bày đồ chơi, tự dọn

Nếu bạn đã từng "phát điên" trong khi đang vội lại dẫm phải đồ chơi của con bầy tung tóe trên sàn nhà? Hãy xem những cách đơn giản rèn cho bé kỹ năng tự dọn đồ chơi sau đây.

Có lẽ bạn không phải là cha mẹ duy nhất bị rơi vào hoàn cảnh ấy, thậm chí không chỉ một lần mà có thể đến n lần. Nhiều cha mẹ thất bại khi cố gắng rèn bé biết thu dọn đồ sau khi chơi xong.

Vậy làm thế nào để thành công khi rèn cho bé kỹ năng tự dọn đồ chơi?

1. Bắt đầu càng sớm càng tốt

Những thói quen tốt hình thành từ sớm vô cùng có lợi. Như tất cả những hành vi khác cần được rèn từ sớm, để bé biết tự thu dọn đồ chơi cũng phải đào tạo ngay từ đầu.

Có thể bắt đầu dạy con của bạn lấy đồ chơi trong giỏ khi bé bò thành thạo và chập chững đi. Sau đó, cùng nhặt đồ chơi vào giỏ khi không chơi nữa. Tất nhiên trong quá trình làm việc, bé rất dễ bị phân tâm bởi điều khác; hoặc khi không hào hứng, bé có vẻ chống đối; hay cũng có lúc, bạn cứ nói, còn bé nghệt mặt vì không hiểu mẹ yêu cầu gì.

Nếu lặp lại nhiều lần, nhất là được nhìn bạn làm mẫu, bé sẽ dễ bắt chước theo. Dần dà bé sẽ có thói quen dọn đồ sau khi chơi.

Hãy dạy con kỹ năng tự dọn đồ chơi trước khi bạn "phát điên" vì những thứ bé bày ra.
 (Ảnh minh họa)

2. Trò chơi vui vẻ

Thái độ vui vẻ của bạn khi dọn đồ chơi sẽ ảnh hưởng đến bé. Vì thế, bạn cần biến việc dọn đồ chơi thành một hoạt động vui vẻ hoặc một trò thách thức như một vài ví dụ sau:

- Hãy mở một cuộc thi mà mẹ và bé thử xem ai nhặt đồ chơi nhanh nhất. Bạn có thể đặt thời gian, chẳng hạn 2 phút (hoặc lâu hơn) để trò chơi thêm phần thú vị.

- Phải nhặt đủ 10 đồ chơi vào giỏ trước giờ ăn trưa.

- Nhặt 10 hoặc 15 đồ chơi trước khi được mẹ đưa ra ngoài đi dạo...

Bé rất thích thú khi được cha mẹ thách đố và kết quả, bạn có một giỏ đồ chơi đầy, cộng với một sàn nhà sạch bóng.

3. Việc làm tốt – phần thưởng vui

Khi lớn dần lên, bé sẽ thấy việc thu dọn đồ chơi không còn là niềm vui, bé cũng chẳng còn hăm hở với trò thách đố từ cha mẹ. Khi ấy, tặng bé một miếng dán bé ngoan mỗi lần biết tự dọn đồ chơi là gợi ý phù hợp. Phần lớn các bé đều thích miếng dán và muốn thành quả của mình được đánh dấu trên cánh tủ lạnh, chẳng hạn, cho cả nhà cùng xem. Khi tích đủ miếng dán bé ngoan, bạn có thể tìm phần thưởng nào thú vị để khích lệ bé.

Thiếu hay thừa vitamin và khoáng chất đều nguy hiểm

Vitamin và khoáng chất là yếu tố cần thiết cho sự phát triển cơ thể trẻ. Nếu thiếu bé có thể chậm lớn, nhưng dư thừa lại có thể ngộ độc.

Trước tình trạng nhiều bố mẹ lạm dụng thuốc bổ cho con, thạc sĩ, bác sĩ Lê Thị Hải, Giám đốc trung tâm Tư vấn dinh dưỡng, Viện Dinh dưỡng quốc gia, cảnh báo về những nguy cơ do thiếu hay thừa vitamin và khoáng chất đối với trẻ.

Khi bổ sung vitamin và khoáng chất cho trẻ bằng thuốc, cần chú ý đúng chỉ định của bác sĩ để tránh biến chứng do quá liều 

Thiếu vitamin và khoáng chất, trẻ sẽ chậm lớn, mắc một số bệnh. Chẳng hạn thiếu vitamin A có thể gây bệnh ở mắt, nhiễm khuẩn đường hô hấp và đường tiêu hóa. Thiếu vitamin B1 dễ bị phù, viêm các dây thần kinh, suy tim. Thiếu vitamin C, trẻ có thể chảy máu dưới da và niêm mạc, giảm sức đề kháng của cơ thể với bệnh tật, đặc biệt là các bệnh nhiễm khuẩn…

Tình trạng thiếu vitamin và khoáng chất thường do cung cấp thiếu, gặp ở trẻ sống trong gia đình nghèo nên bữa ăn không đủ dưỡng chất; ăn phải gạo bị mốc hoặc để lâu ngày; rau quả để bị héo hoặc bảo quản lạnh quá lâu. Chế biến thức ăn không đúng như đun đi đun lại nhiều lần, tập quán ăn uống kiêng khem quá mức hoặc trẻ không được bú sữa mẹ... cũng là những nguyên nhân.

Trẻ mắc một số bệnh lý, bị suy dinh dưỡng, tiêu chảy kéo dài, rối loạn hấp thu, các bệnh về gan, mật... thường hay bị thiếu vitamin và chất khoáng. Trẻ bị bệnh sốt rét có thể gây thiếu vitamin B1 và làm bệnh phức tạp thêm.

Các nguyên nhân khác thường gặp ở những trẻ đẻ non, sinh đôi, lớn quá nhanh nên nhu cầu vitamin cao hơn sự cung cấp hàng ngày. Ngoài ra, nếu nghi ngờ chế độ ăn không cung cấp đủ dưỡng chất thì ngay cả trẻ khỏe mạnh cũng nên bổ sung vitamin và khoáng chất.

Thừa vitamin cũng có thể gây nguy hiểm cho trẻ.Thừa vitamin A có thể gây ngộ độc làm tăng áp lực nội sọ dẫn đến trẻ bị nôn nhiều, đau đầu, ảnh hưởng đến sự phát triển xương làm trẻ chậm lớn, rối loạn thần kinh. Thừa vitamin B6 có thể dẫn tới viêm đa dây thần kinh, giảm trí nhớ, giảm tiết prolactin. Thừa vitamin D có thể làm trẻ chán ăn, mệt mỏi, nôn, dày màng xương, có trường hợp bị thiểu năng. Bổ sung vitamin D quá nhiều có thể gây suy thận và tử vong rất nhanh…

Một số phụ huynh có thói quen sử dụng tùy tiện các loại thuốc bổ có thể vô tình làm cho trẻ thiếu vitamin và vi chất dinh dưỡng do tương tác thuốc... làm giảm hấp thụ các vitamin nhóm B; vitamin E liều cao làm cạn kiệt dự trữ vitamin A; vitamin C liều cao làm phá hủy vitamin B12; thừa kẽm làm cản trở hấp thu sắt...

Khi bổ sung vitamin và khoáng chất cho trẻ bằng thuốc cần chú ý dùng đúng chỉ định của bác sĩ để tránh biến chứng xấu do quá liều. Liều bổ sung bao giờ cũng phải thấp hơn nhu cầu hàng ngày, trừ trường hợp trẻ đang bị mắc bệnh do thiếu các vitamin và khoáng chất đó thì có thể dùng liều cao hơn, theo chỉ dẫn của bác sĩ nhi khoa. Vì vậy phụ huynh cần phải biết nhu cầu hàng ngày về vitamin và khoáng chất là bao nhiêu.

Các chế phẩm vitamin và vi chất dinh dưỡng đơn lẻ thường có hàm lượng rất cao, như vitamin B12 loại 5.000-10.000 mcg cao hơn 800-1.600% nhu cầu hằng ngày, vitamin C 1.000 mg, nguyên tố kẽm 100 mg, cao hơn 330-660% nhu cầu... nên khi sử dụng cần tham khảo và tuân thủ tuyệt đối chỉ định của thầy thuốc. Phụ huynh khi sử dụng vitamin và khoáng chất dưới dạng phối hợp (đa vitamin, đa khoáng chất...) phải phân biệt rõ ràng công thức cho trẻ dưới một tuổi và dưới bốn tuổi.

Trường hợp trẻ phải dùng thuốc dài ngày, dùng liều cao hoặc dùng các chế phẩm có quá nhiều thành phần vitamin và chất khoáng trong một viên thuốc, phải tham khảo thầy thuốc chuyên khoa nhi. Nên cho trẻ dùng dạng lỏng như dung dịch uống vì vừa dễ uống vừa dễ hấp thu. Sử dụng thuốc bổ sung vitamin không thay thế được thức ăn, mà vẫn phải ăn uống đầy đủ, cân bằng các nhóm thực phẩm.

Vitamin luôn có sẵn trong thực phẩm (rau, quả, ngũ cốc, thịt, cá...). Nếu sử dụng thực phẩm đảm bảo chất lượng, không ăn kiêng, không bị rối loạn hấp thụ ở đường tiêu hoá thì không cần bổ sung.